1. Diễn Đàn Đề Thi Việt là nơi chia sẻ thông tin học tập, tài liệu học tập dành cho học sinh, sinh viên và thông tin giảng dạy dành cho giáo viên. Chúng tôi sẽ xóa toàn bộ các bài viết, bình luận không liên quan trên toàn diễn đàn.
    Dismiss Notice

Văn bản văn học - Soạn văn lớp 10

Thảo luận trong 'Môn Ngữ Văn lớp 10' bắt đầu bởi Thịnh Nguyễn, 20/3/18.

Lượt xem: 1,083

  1. Thịnh Nguyễn Moderator

    Văn bản văn học - Soạn văn lớp 10 - Bài soạn cho ta nắm được các tiêu chí, cấu trúc chủ yếu của một văn bản văn học theo quan niệm ngày nay. Những kiến thức trọng tâm, những câu hỏi trong bài học sẽ được hướng dẫn trả lời, soạn bài đầy đủ, chi tiết

    Văn bản văn học - Soạn văn lớp 10

    A- Kiến thức trọng tâm

    I- Tiêu chí chủ yêu của văn học

    • Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người
    • Được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao
    • Xây dựng theo một phương thức riêng, mỗi văn bản văn học đều thuộc về một thể loại nhất định và theo những quy ước, cách thức của thế loại đó
    II- Cấu trúc của văn bản văn học

    1. Tầng ngôn từ- từ ngữ âm đến ngữ nghĩa
    : Bước đầu để đi vào chiều sâu của văn bản

    2. Tầng hình tượng: được sáng tạo bởi những chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng

    3. Tầng hàm nghĩa: Nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản; cần đi qua các lớp đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo

    III- Từ văn bản đến tác phẩm văn học
    • Văn bản văn học: các sáng tác của nhà văn, một hệ thống kí hiệu tồn tại khách quan vì chưa thể tác động tới xã hội
    • Văn bản văn học trở thành tác phẩm văn học thông qua việc đọc và tiếp nhận những giá trị tiềm ẩn trong văn học; từ đó làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức, tình cảm của con người
    B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

    Hướng dẫn đọc bài

    Câu 1: trang 121 sgk Ngữ Văn 10 tập hai


    Hãy nêu những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học

    Hướng dẫn giải:

    Những tiêu chí:
    • Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh và khám phá thế giới, tình cảm, tư tưởng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.
    • Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao, rất giàu hàm nghĩa và gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc.
    • Văn bản văn học bao giờ cũng thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước riêng, những cách thức riêng của thể loại đó.
    Câu 2: Trang 121 sgk Ngữ Văn 10 tâp hai

    Vì sao nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học?

    Hướng dẫn giải:

    Hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học. Bởi rõ ràng nếu mới chỉ hiểu tầng ngôn từ mà chưa biết tổng hợp nên ý nghĩa của hình tượng, chưa hiểu các ý nghĩa hàm ẩn của văn bản thì chưa thể coi là đã nắm được nội dung tác phẩm.Trong một tác phẩm văn học, bao giờ nhà văn cũng gửi gắm những tư tưởng, tình cảm và thái độ của mình trước cuộc đời thông qua hình tượng. Mà hình tượng nghệ thuật của tác phẩm chính lại được hình thành từ sự khái quát của lớp nghĩa ngôn từ.

    Câu 3: Trang 121 sgk Ngữ Văn 10 tập hai

    Phân tích ý nghĩa một hình tượng mà anh (chị) thấy thích thú trong một bài thơ hoặc đoạn thơ ngắn.

    Hướng dẫn giải:

    Hình ảnh “đầu súng trăng treo” trong thơ Chính Hữu, là một biểu tượng đẹp về người chiến sĩ thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Trong đêm phục kích giữa rừng, bên cạnh hình ảnh thực là súng, là nhiệm vụ chiến đấu tạo nên con người chiến sĩ thì cái mộng, cái trữ tình là trăng. Hình ảnh trăng tạo nên con người thi sĩ. Hình ảnh chiến sĩ, thi sĩ hài hòa với nhau trong cuộc đời người lính cách mạng. Hai hình ảnh tưởng là đốì lập nhau đặt cạnh nhau tạo ra ý nghĩa hòa hợp vô cùng độc đáo. Súng là chiến đấu gian khổ, hi sinh, là hiện thực. Còn trăng là tượng trưng cho hòa bình, gợi lên sự đẹp đẽ thơ mộng, dịu dàng và lãng mạn. Cả hai hình ảnh kết hợp hài hòa với nhau tựa như những người bạn tri kỉ, làm nên vẻ đẹp người chiến sĩ trong những tháng năm gian khó nhọc nhằn.

    Câu 4: Trang 121 sgk Ngữ Văn 10 tập hai

    Hàm nghĩa của văn bản văn học là gì? Cho ví dụ cụ thể.

    Hướng dẫn giải:
    • Hàm nghĩa của văn bản:
      • Hàm nghĩa của văn bản văn học là khả năng gợi ra nhiều lớp ý nghĩa tiềm tàng, ẩn kín của văn bản văn học mà qua quá trình tiếp cận, người đọc dần dần nhận ra.
      • Muốn nhận ra hàm nghĩa của văn bản văn học, người đọc cần đi qua các lớp: đề tài, chủ đề, cảm hứng chủđạo ,...
      • Hàm nghĩa của văn bản văn học không phải lúc nào cũng dễ hiểu và không phải lúc nào cũng hiểu đúng và hiểu đủ.
    • Ví dụ:
      • Truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu bao hàm nhiều ý nghĩa triết lí về con người và cuộc đời thông qua rất nhiều những nghịch lí: Con người, đôi khi vì những "vòng vèo, chùng chình" đã không thể đến được nơi mà mình cần đến, mặc dù nơi ấy ở ngay trước mặt và rồi người ta cứ mải mê đi tìm những giá trịảo tưởng trong khi có những giá trị quen thuộc, gần gũi mà bền vững thì lại bỏ qua để khi nhận ra thì quá muộn.
      • Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương mới đọc qua tưởng chỉ là chuyện của chiếc bánh trôi, từ đặc điểm đến các cung đoạn làm bánh. Nhưng hàm chứa trong đề tài bánh trôi là cảm hứng về cuộc đời và thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Người phụ nữ than thân trách phận nhưng không dừng lại ở đó, còn khẳng định vẻ đẹp của mình và lên tiếng phê phán xã hội bất công, vô nhân đạo.
    Luyện tập

    Bài tập: trang 121 sgk Ngữ văn 10 tập 2


    Đọc các văn bản (SGK) và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:

    NƠI DỰA

    Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia?

    Khuôn mặt trẻ đẹp chim vào những miền xa nào..

    Đứa bé đang lẫm chẫm muôn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.

    Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.

    Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.

    Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?

    Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết. Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước tìmg bước run rẩy. Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.

    Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
    (Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
    Câu hỏi:

    a) Hãy tìm hai đoạn văn có cấu trúc ( cách tổ chức) câu, hình tượng tượng tương tự nhau của bài thơ Nơi dựa

    b) Những hình tượng ( người đàn bà- em bé, người chiến sĩ - bà cụ già) gợi lên những suy nghĩa gì trong cuộc sống?

    (2)

    THỜI GIAN
    Thời gian qua kẽ tay
    Làm khô những chiếc lá
    Kỉ niệm trong tôi
    Rơi
    như tiếng sỏi
    trong lòng giếng cạn
    Riêng những câu thơ
    còn xanh
    Riêng những bài hát
    còn xanh
    Và đôi mắt em
    như hai giếng nước
    (Văn Cao, lá, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1998)
    a) Theo anh chị, các câu sau chứa hàm chứa ý nghĩa gì?

    - Kỷ niệm trong tôi

    Rơi

    như tiếng nước sỏi

    trong lòng giếng cạn

    -Riêng những câu hát

    còn xanh

    So sánh đối với hai câu mở đầu bài, chú ý từ xanh)

    -Và đôi mắt e

    như hai giếng nước

    b) Qua bài Thời gian, Văn Cao định nói điều gì?

    (3)

    MÌNH VÀ TA

    Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình
    Sâu thẳm mình ư, lại là ta đấy!
    Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy
    Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành.
    (Chế Lan Viên, Ta gửi cho mình, NXB Tác phẩm mới Hà Nội, 1986)
    a) Giải thích rõ quan niệm của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà văn (ta) ở các câu 1,2

    b) Nói rõ quan hệ của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc ở các câu 3,4.

    Hướng dẫn giải:

    (1) văn bản: " Nơi dựa":


    a) Đoạn có cấu trúc tương tự là: Câu mở đầu và câu kết

    b) Hình tượng nhân vật được trình bày cốt làm nổi bật tính tương phản:
    • Người mẹ trẻ: dựa vào đứa con mới chập chững biết đi.
    • Anh bộ đội: dựa vào cụ già bước run rẩy không vững.
    => Gợi suy ngẫm về "nơi dựa" - chỗ dựa tinh thần - tìm thấy niềm vui, ý nghĩa của cuộc sống ( Người đàn bà dắt đứa nhỏ nhưng chính đứa nhỏ lại là ‘Nơi dựa” cho người đàn bà; bà cụ già bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ.)

    (2) Văn bản: " Thời gian"

    a) đoạn thơ chia làm 2 phần:
    • Bốn câu thơ đầu: sức tàn phá của thời gian.
    • Còn lại : những giá trị bền vững tồn tại mãi với thời gian
    (2) Văn bản " thời gian":
    • "thời gian qua kẽ tay": Thời gian trôi chảy từ từ, nhẹ, im, tưởng như yếu ớt
    • " làm khô những chiếc là": “Chiếc lá” vừa có nghĩa thực, cụ thể vừa có nghĩa bóng, ẩn dụ. Nó vừa là chiếc lá trên cây, mới hôm này còn xanh tươi sự sống thế mà chí một thời gian lọt “qua kẽ tay”, là đã lá chết. Nó vừa là những chiếc lá cuộc đời trên cái cây cuộc sống mà khi thời gian trôi đi, sự sống cứ rụng dần như những chiếc lá
    • " Kỷ niệm trong tôi/Rơi/ như tiếng sỏi/ Trong lòng giếng cạn": từ hình ảnh hòn sỏi rơi vào lòng giếng cạn đầy bùn cát thì chẳng có tiếng vang gì cả qua đó hàm ý một cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xóa nhòa.
    • "Riêng những câu thơ còn xanh/ Riêng những bài hát còn xanh" : cuộc sống vẫn có những điều tồn tại mãnh liệt với thời gian, nghệ thuật khi đã đạt đến độ kết tinh xuất sắc sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian, không bao giờ bị xóa nhòa vùi lấp
    • "Và đôi mắt em/ như hai giếng nước": hình ảnh "hai giếng nước" chứa đầy những kỉ niệm tình yêu, những kỉ niệm tình yêu sống mãi, đối lập với những kỉ niệm "rơi" vào "lòng giếng cạn" quên lãng của thời gian.
    b. Qua bài thơ "Thời gian", Văn Cao muốn nói rằng: thời gian có thể xoá nhoà tất cả, chỉ có văn học nghệ thuật và tình yêu là có sức sống lâu bền.

    ( 3) Văn bản: " Mình và ta":

    a) Hai câu thơ thể hiện quan niệm sâu sắc của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà văn (ta). Bởi lẽ nhà văn luôn có sự đồng cảm với bạn đọc cũng như trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, xuất phát từ nơi tận cùng "sâu thắm" từ đó tạo nên tiếng nói chung, là nơi gặp gỡ của tâm hồn, tình cảm con người.

    b) Nhà văn viết tác phẩm văn học là sáng tạo nghệ thuật theo những đặc trưng riêng. Những điều nhà văn muốn nói đều đã được gửi gắm vào hình tượng nghệ thuật và nghệ thuật chỉ có giá trị gợi mở chứ không bao giờ nói hết, nói rõ. Người đọc phải tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy ngẫm, phân tích để sao cho từ bếp "tro" tưởng như tàn lại có thể "nhen thành lửa cháy", từ "viên đá con" có thể dựng nên thành, nên luỹ, nên những lâu đài, cung điện nguy nga.

    =>Quan niệm trên của Chế Lan Viên đã được nhà thơ phát biểu theo cách của thơ và đó cũng là một minh chứng cho quan niệm của chính nhà thơ.
     

Chia sẻ trang này